User Tools

Site Tools


31-nam-xu-n-nam-n-la-gi

Nam Xuân là một xã thuộc huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, Việt Nam.

Xã Nam Xuân có diện tích 12,56 km², dân số năm 2014 là 6112 người,[1] mật độ dân số đạt 665 người/km².

Nam Xuân Nằm ở phía bắc của huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Phía Bắc tựa lưng vào dãy núi Đại Huệ, phía Nam giáp với xã Xuân Hòa, phía Đông giáp với xã Nam Lĩnh, phía tây giáp với Xã Nam Anh.

Xã Nam Xuân gồm có 12 xóm, cụ thể:

  • Làng nhà: Xóm 1, Xóm 2, Xóm 3
  • Làng rú: Xóm 4, Xóm 5, Xóm 6, Xóm 7, Xóm 8, Xóm 9, Xóm 10, Xóm 11, Xóm 12

Thời tiết và khí hậu của xã Nam Xuân tương đối khắc nghiệt. Hằng năm mùa hanh khô kéo dài từ tháng 1 đến tháng 3 dương lịch, mùa nóng từ tháng 4 đến tháng 8, mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 12. Lượng mưa hàng năm cao nhất là 2,228 mm, thấp nhất là 1,402 mm, trung bình là 1,428 mm. Bão lụt thường xảy ra vào tháng 9 và tháng 10 dương lịch, gây úng lụt trên diện tích rộng, có lúc kéo dài trong một thời gian dài.

- Các đền chùa

  • Chùa Vĩnh Phúc
  • Đền Câu
  • Đền Nhà Bà
  • Đền Đông Dương
  • Đền Mụ Ngọ (Xóm 1)
  • Nguyễn Thúc Kiều, cử nhân nho học, thầy dạy của nhà chí sĩ Phan Bội Châu. Ông Kiều đỗ Cử nhân năm Mậu Dần (1878) dưới triều Tự Đức., được bổ dụng làm Hành tẩu Bộ Công, hàm Biên tu (1880). Năm 1881, ông từ quan về quê mở trường dạy hoc.
  • Nguyễn Thúc Dinh, đỗ phó bảng, Thị lang Bộ Lại triều đình nhà Nguyễn (tương đương Thứ trưởng Bộ Nội vụ), đã từng nhận được Bắc đẩu bội tinh và Long bội tinh.
  • Nguyễn Thúc Hào, thủ khoa vào trường Quốc học Huế Năm 1924, Nguyễn Thúc Hào thi đỗ thủ khoa vào trường Quốc học Huế (á khoa là Đại tướng Võ Nguyên Giáp - đây cũng là người bạn thân học cùng và làm việc trong nhiều năm về sau này). Năm sau, ông chuyển ra Hà Nội, vào học Trường Albert Sarraut.

Năm 1929, thì sang Pháp, thi đỗ tú tài toán tại Aix-en-Provence. Ông theo học trường Đại học Khoa học Marseille. Sau 4 năm học tập, ông thi lấy 6 chứng chỉ: toán học đại cương, giải tích toán học, vật lý đại cương, cơ học lý thuyết, cơ học chất lỏng và thiên văn học. Ngoài ra, ông còn viết xong luận văn cao học, nay gọi là thạc sĩ, về một đề tài liên quan đến hình học và cơ học. Năm 1935, ông trở về dạy toán tại trường Quốc học Huế. Sau Cách mạng tháng Tám, ông được cử làm giám đốc Vụ Trung học Trung Bộ. Chẳng bao lâu sau, ông chuyển ra thủ đô Hà Nội, nhận chức tổng thư ký kiêm giám đốc trường Đại học Khoa học Hà Nội - nay là trường Đại học Quốc gia. Ông đã mời một số nhà khoa học nổi tiếng đến dạy ở trường: Tạ Quang Bửu, Ngụy Như Kon Tum dạy vật lý, Hoàng Xuân Hãn dạy toán... Sau khi Hà Nội giải phóng, ông giữ chức phó hiệu trưởng trường Đại học Sư phạm Hà Nội, bên cạnh giáo sư hiệu trưởng Phạm Huy Thông. Tiếp đó là 15 năm liền, 1959-1974, ông trở về quê hương, xây dựng trường ĐH Vinh từ những ngày đầu sơ khai. Ông là hiệu trường đầu tiên của trường trường Đại học Sư phạm Vinh. Đây là trường đại học tiền tuyến của miền Bắc XHCN và là trường ĐH lớn thứ hai của Việt Nam (sau hệ thống Đại học Quốc gia) - cái nôi đào tạo nhiều lãnh đạo của Đảng và nhà nước Việt Nam. Ông còn là một nhà hoạt động xã hội nhiều mặt, như đại biểu Quốc hội ba khóa liên tiếp (2,3,4), Phó chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh Nghệ An, Ủy viên ban chấp hành Hội Hữu nghị Việt-Pháp. Giáo sư Nguyễn Thúc Hào đã nhận được nhiều huân huy chương của nhà nước Việt Nam: Huân chương kháng chiến chống Pháp hạng 2,3 / Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhất / Huân chương Lao động hạng nhất. Sau đó, ông nghỉ hưu và sống tại Hà Nội.

- Nam Xuân là một xã bán sơn địa nên từ hàng ngàn năm nay chỉ làm nông nghiệp trồng trọt và chăn nuôi. Cây trồng chủ yếu là Lúa, ngô, khoai, lạc...Bên cạnh nghề làm nông, nhân dân trong xã còn làm thêm các nghề khác như:

  • Nghề rèn
  • Nghề làm bánh mướt
  • Làm tương
  • Vùng trên rú (núi - tiếng địa phương) có sản phẩm chè xanh thơm ngon.
  • Có loại Hồng rú ngon nổi tiếng đã được công nhận và ghi vào thi ca.

- Trong những năm gần đây, Đất nước hội nhập với Thế giới thì trong xã có khoảng 30% thanh niên đi xuất khẩu lao động ở các nước như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan...

* Hằng năm cứ vào dịp tết Nguyên Đán, xã lại tổ chức Hội vật Cổ truyền thu hút đông đảo bà con trong và ngoài xã nhà tham dự

* Các ngày lễ như 19/8; 02/09 tổ chức thi cắm trại và các hoạt động văn nghệ cho các em học sinh.

  • Ở khu vực làng nhà (xóm 1, 2, 3) có các giáo dân theo đạo Thiên Chúa Giáo. Hiện tại ở Xóm 2 còn có nhà thờ của Giáo xứ Xuân Liễu, là nơi để các giáo dân tập trung về làm lễ, cầu nguyện.

Theo "Xuân Liễu xã sự tích" bản chép tay của ông Nguyễn Vinh Ngộ (1923 - 1990) thì dân quê ta xưa làm nghề chài lưới ở xứ Nộn Nang, đánh cá ở Báu Nón, sau sinh con đẻ cái đông đúc nên họ chia thành 3 nhóm.

Một nhóm ở xứ Nộn Nang, một nhóm ở Rú Cụp, một nhóm ở vệ Vạn An (Vân Diên ngày này). Dân 3 nhóm sống chung một xã gọi là Nộn Giang.

Theo tục lễ cứ đến tháng 6 hàng năm họ họp tại Cồn Đình để làm lễ cầu phúc, hát xướng lấy đó làm nơi trung tâm.

Có một năm mưa to, người ở Rú Cụp đi ra bị sóng to, chết đuối rất nhiều. Sau tai biến này, họ chia làm 3 xã. Một xã tên là Nộn Giang (tức Xuân Liễu sau này); Một xã lấy tên là Hương Lãm (Vân Diên và Khả Lãm sau này); Một xã lấy tên là Thanh Tuyền (Nam Thanh bây giờ).

Đến thời Hậu Lê, xã Nộn Giang đổi thành xã Nỗn Liễu, dân Nỗn Liễu ngày càng đông dẫn đến tranh giành đất đai và kiện tụng nhau. Triều Đình phái người về xem xét và quyết định chia làm 2 xã, chia các đỉnh rú: rú Anh, rú Nhón, rú Tán, rú sắt làm ranh giới. Một xã gọi là Nỗn Liễu gồm 10 Giáp. Xã thứ 2 gọi là Nỗn Hồ gồm 5 Giáp; Về sau Nỗn Liễu đổi thành Xuân Liễu, Nỗn Hồ đổi thành Minh Hồ, rồi Xuân Hồ

Hai xã Xuân Liễu-Xuân Hồ có mối quan hệ thân thiện, gần gũi cho nên có câu hát:

                              Xuân Hồ, Xuân Liễu xa chi

                           Cùng ăn một chợ, cùng đi một đàng

Theo "Song Xuân Tiểu Chí" của Hồ Sỹ Thứ còn gọi là cụ Hàn Quynh (1887-1954) thì các thôn của Xuân Liễu là: Đức Nghĩa, Đồng Thượng, Đồng Đức, Mai Đông, Mai Nam, Ngọc Sơn, Tăng Phúc, Nam Vinh, Đông Dương và Nghi Hưng. Các thôn của Xuân Hồ là: Đức Mẫu, Nho Phái, Lễ Nghi, Đông Giáp, Thượng Giáp

Đặc điểm dân 2 xã sống xen kẽ nhau gọi là "Gián cư, gián canh" cho nên trong cuốn Song xuân tiêu chí có câu:

                              "...Phân vi nhĩ xa

                              Gián cư gián canh

                              Hoặc trù hoặc quả

Ngày nay ngiên cướu ịch sử xã Nam Xuân, tất yếu phải nói đến xã Nộn Giang, xã Xuân Liễu. Đây là những địa danh có trước Nam Xuân. Địa danh Xuân Liễu duy trì cho đến Cách mạng tháng 8/1945 thì đổi tên thành xã Nam Xuân. 

  • Địa chỉ: Xã Nam Xuân, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An
  • Điện thoại: 0383.822.262
  • Email: [email protected]
31-nam-xu-n-nam-n-la-gi.txt · Last modified: 2018/11/07 17:11 (external edit)