User Tools

Site Tools


31-m-ng-khi-ng-la-gi

Mường Khiêng là một xã thuộc huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La, Việt Nam.

Xã có diện tích 67,52 km², dân số năm 1999 là 5375 người,[1] mật độ dân số đạt 80 người/km².

1.1. Vị trí địa lý

Mường khiêng là một xã vùng núi thuộc huyện Thuận Châu, cách trung tâm huyện 40 km theo hướng Tây Bắc,  Mường Khiêng gồm 32 bản với tổng diện tích tự nhiên 6,739.96 ha. Vị trí địa lý: 21°29′11″B 103°53′7″Đ Địa giới hành chính xã giáp với các xã:

- Phía Bắc giáp xã Liệp Tè; việt hói

- Phía Nam giáp xã Bó Mười; bò xoáy

- Phía Đông giáp xã Mường Bú; đức phật

- Phái Tây giáp xã Chiềng Ngàm. hà vịt

1.2. Địa hình

* Địa hình: Bị chia cắt bởi những dãy núi và đất nên đã hình thành những vùng lòng chảo. Độ cao trung bình ở đây là 600m so với mực nước biển. Đất đai của xã được phân bổ sử dụng theo các dạng địa hình sau:

- Địa hình cấp I, II (độ dốc từ 0o – 25o) được sử dụng chính cho trồng cây lương thực, cây ăn quả, bố trí khu dân cư và các công trình phúc lợi xã hội của xã.

- Địa hình cấp III, IV (độ dốc 26o – 45o) địa hình này trước đây được bố trí sử dụng làm đất nương rầy, đến nay phần lớn đã được chuyển sang khoanh tái sinh rừng tự nhiên.

- ĐỊa hình cấp V (độ dốc > 450) hiện nay được khoanh khoán và tái sinh rừng tự nhiên.

* Thổ nhưỡng: Đất đai được hinhd thành trên đá mẹ khác nhau và chia ra thành các loại đất chính sau: Đất phù sa suối, đất dốc tụ và đất Feralit.

1.3. Khí hậu

Xã nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa vùng núi với hai mùa rõ rệt trong năm.

- Mùa đông lạnh (mùa khô) rét mưa, mùa này bắt đầu  từ tháng 10 năm trước đến tháng 3 năm sau, mùa này thịnh hành gió mùa Đông Bắc nhưng từ cuối tháng 12 năm trước đến cuối tháng 3 năm sau thường xen kẽ gió  Tây Nam khô nóng và thường xuất hiện sương muối.

- Mùa hè (mùa mưa) bắt đầu từ tháng 4 đến cuối tháng 9, mùa này thịnh hành gió Đông Nam, lượng mưa nhiều, lượng mưa trung bình trong tháng đạt tới 210 mm/tháng.

- Nhiệt độ: nhiệt độ trung bình trong năm cao tới 26°C, nhiệt độ thấp nhất đạt 16.8°C.

- Độ ẩm không khí trung bình: 79%.

- Số giờ nắng trung bình đạt: 1900 – 1960 giờ/năm.

1.4. Thủy văn

Do cấu trúc địa chất, các dãy đứt, gẫy phân chia các vùng chạy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam. Vì vậy, hệ thống sông suối của xã  có hướng chảy Tây Bắc – Đông Nam, về cơ bản với đặc điểm thuỷ văn như trên đủ để cung cấp nước phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân trong xã.

2. Điều kiện kinh tế - xã hội

2.1. Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội

Trong những năm gần đây, ngành sản xuất nông lâm nghiệp của xã đã có những bước chuyển biến tích cực, nguồn thu nhập chính của người dân trong xã chủ yếu là từ trồng trọt. Hiện tại nhân dân trong xã đã được sử dụng điện lưới quốc gia. Các công trình kết cấu hạ tầng của xã cơ bản được xây dựng phục vụ nhu cầu sinh hoạt của xã xong vẫn còn nhiều nhà tạm. Thực trạng phát triển các ngành phát triển của các ngành như sau:

- Ngành sản xuất nông nghiệp: Sản lượng lương thực bình quan quy ra tóc trên đầu người đạt 200 – 220 kg/người/năm.  Những năm gần đây trên địa bàn xã phát triển một số loại cây mang lại nguồn kinh tế cao như ngô, sắn... với sản lượng cao đáp ứng phần nào ổn định cuộc sống cho người dân. Năm 2008 – 2009 xã tiến hành trồng gần 400 ha cây cao su.

- Ngành chăn nuôi: hình thức chăn nuôi chủ yếu tập trung tại cac hộ gia đình, cá nhân nhỏ lẻ. bình quan mỗi hộ nuôi được 2 – ba con lợn, 12 – 13  con gia cầm, về cơ bản đã đáp ứng được nhu cầu về thực phẩm cho người dân trong xã và góp phần ổn định kinh tế gia đình. Hiện tại, trên địa bàn xã có một doanh nghiệp chăn nuôi bò sữa và bò thịt  chất lượng cao với quy mô tương đối lớn với số lượng khoảng 500 con, do đó góp phần vào giải quyết công ăn việc làm cho người dân trong xã.

- Ngành lâm nghiệp: Hoạt động lâm nghiệp chủ yếu là tập trung vào công tác khoanh nuôi bảo vệ diện tích rừng tự nhiện hiện còn, trồng rừng theo dự án 661. Diện tích đất lâm nghiệp đã được giao khoán đến từng hộ gia đình, các tổ chức đoàn thể, cộng đồng bản trên toàn xã để quản lý, sử dụng. Trong xã đã có sự kết hợp chặt chẽ giữa các ngành kiểm lâm, nông nghiệp và UBND xã đã đầu tư để khoanh nuôi bảo vệ rừng.

- Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp: ngoài các ngành sản xuất  chính, xã có ngành dệt thủ công truyền thống nên nhân dân phát huy có hiệu quả nhưng chưa có đầu tư thích đáng và mới chỉ dừng  lại mang tính tự cung tự cấp phục vụ cho nhân dân trong vùng.

- Dịch vụ - thương mại: Những năm gần đây, ngành dịch vụ thương mại  đã có nhiều chuyển biến tích cực. Tuy nhiên hệ thống dịch vụ vẫn chưa tập trung, quy mô còn nhỏ lẻ, chủ yếu mang tính chất gia đình. Nguồn thu từ dịch vụ thương mại không đáng kể.

2.2. Dân số và lao động  

Mường Khiêng có 32 bản. Toàn xã có 9231 khẩu với 1953 hộ chủ yếu là dân tộc Thái. Mật dộ dân số 5,8 người/m². Tỷ lệ tăng dân số vẫn ở mức cao 1,66%.

Số lao động ở Mường Khiêng chủ yếu làm nghề nông nghiệp. Việc chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông  lâm nghiệp còn chậm, việc áp dụng thành tựu khoa học kỹ thuật vào sản xuất chưa được quan tâm, tập quán canh tác cong lạc hậu, cơ sở hạ tầng yếu kém, thiếu các nguồn khoáng sản có giá trị cùng tỷ lệ dân số tăng nhanh làm cho đời sống người dân gặp khó khăn.

Những năm gần đây đư­ợc sự quan tâm đầu tư­ của Đảng, Nhà nư­ớc thông qua các công trình dự án phát triển xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển sản xuất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, định canh định cư­,... đã phát huy tốt tác dụng trong công tác xoá đói giảm nghèo, góp phần giải quyết công ăn việc làm, tăng thu nhập, nâng cao đời sống nhân dân. Song toàn xã hiện nay vần còn khó khăn, lao động thiếu việc làm vẫn còn.

2.3. Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng

Giao thông: Trên địa bàn xã có một loại hình giao thông chính là hệ giao thống đường bộ. UBND xã cũng nhận thức rất rõ tầm quan trọng của giao thông đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, nê trong những năm qua xã đã đôn đốc chỉ đạo các bản sửa chữa nâng cấp kịp thời các tuyến giao thông liên bản. Do chủ yếu vẫn là đường đất nên vào mùa mưa nhu cầu đi lại, vận chuyển hàng hóa vẫn còn gặp nhiều khó khăn.

Thuỷ lợi:  Toàn bộ các tuyến mương trên địa bàn xã đều là mương đất nên vào mùa mưa khi nước tràn về hệ thống thủy lợi của địa phương bị bồi lấp nếu ko khơi thông sẽ không đáp ứng được nhu cầu tưới tiêu. Vì vậy việc tăng cường kiểm tra và tư sửa hệ thống thuỷ lợi hiện có nhằm đảm bảo đủ nước cho sản xuất và sinh hoạt.

Điện:  Trong những năm gần đây gần như toàn xã đã được sử dụng điện lưới quốc gia. Còn một số hộ ở xa chưa có điều kiện. Một số hệ thống dây, cột kéo tới các hộ sử dụng do dân đóng góp nên rất nguy hiểm trong mùa mưa bão. 

Hệ thống y tế, văn hoá, giáo dục:

-         Về Y tế

Xã đã có trạm y tế kiên cố với trang thiết bị tạm thời đáp ứng công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân. Trong những năm qua trạm y tế đã có nhiều cố gắng trong công tác khám chữa bệnh và chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho nhân dân, với đội ngũ cán bộ làm công tác y tế không ngừng được nâng cao trình độ. Xã có 1 trạm y tế với 5 phòng, 2 phòng bệnh, 1 phòng sản, 1 phòng thuốc, 1 phòng hành chính và 6 giường bệnh. Tại các bản có y tế bản, cơ sở vật chất nghèo nàn, số lượng y bác sĩ thiếu về cơ bản đã đáp ứng phần nào nhu cầu khám chữa bệnh của người dân.

- Về giáo dục:

- Trường học:

+ Trường mầm non: Xã có 02 trường mầm non với 17 giáo viên và 898 học sinh trong đó:

* Trường Mầm non I: xã có một trường trung tâm vị trí tại bản Khiêng xây hai tầng kiên cố với 10 phòng học, một điểm trường tại bản Pục nhà tạm với 01 phòng học, một điểm trường tại bản Thông nhà tạm với 02 phòng học, một điểm trường tại bản Củ nhà tạm với 02 phòng học, một điểm trường tại bản Thuận Ơn nhà cấp 4 với 01 phòng học.

* Trường mầm non II: xã có một trường trung tâm vị trí tại bản Sào Và xây cấp 4 kiên cố với 02 phòng học, một điểm trường tại bản Kềm xây cấp 4 kiên cố với 02 phòng học, một điểm trường tại bản Bon nhà tạm với 01 phòng học, một điểm trường tại bản Huổi Pản xây cấp 4 kiên cố với 01 phòng học.

+ Trường tiểu học: Xã có 02 trường tiểu học với 57 giáo viên và 1.060 học sinh trong đó:

* Trường tiểu học I: xã có một trường trung tâm tại vị trí bản Xe xây hai tầng kiên cố với 10 phòng học, một điểm trường tại bản Hụn xây cấp 4 kiên cố với 6 phòng học, một điểm trường tại bản Thông xây cấp 4 kiên cố với 6 phòng học, một điểm trường tại bản Sát xây cấp 4 kiên cố với 6 phòng học.

* Trường tiểu học II: xã có một trường trung tâm vị trí tại bản Han xây 2 tầng kiên cố với 10 phòng học, một điểm trường tại bản Bó Phúc xây cấp 4 kiên cố với 6 phòng học, một điểm trường tại bản Huổi Pản xây cấp 4 kiên cố với 6 phòng học, một điểm trường tại bản Bon xây cấp 4 kiên cố với 5 phòng học.

+ Trường THCS:

Hiện xã có một trường THCS nằm ở bản Han với 05 phòng học nhà hai tầng, 10 phòng học nhà tạm và 05 phòng học bán kiên cố bằng khung sắt; Một khu bán trú học sinh với 10 phòng; Một khu nhà ở giáo viện với 6 phòng. Tổng số 42 giáo viên với 656 học sinh.

- Về văn hoá xã hội.

Hoạt động văn hoá thể dục - thể thao của xã phát triển tương đối tốt, xã có 36 đội văn nghệ, thường xuyên tham gia giao lưu và thi đấu phục vụ nhu cầu thưởng thức văn hoá của nhân dân. Cuộc vận động "toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá" đã đạt được một số kết quả: 32% số hộ đạt gia đình văn hoá, tỷ lệ hộ dân được xem truyền hình đạt 90%...

Hoạt động thông tin, tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng được tổ chức tốt, các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước được phổ biến kịp thời tới nhân dân. Tuy nhiên cơ sở vật chất phục vụ cho các hoạt động văn hóa - thể thao trên địa bàn xã còn nhiều thiếu thốn.

Quốc phòng an ninh

Phát huy truyền thống yêu nư­ớc của cha ông, nhân dân trong xã luôn đoàn kết một lòng, hoàn thành suất xắc nghĩa vụ quân sự mà Đảng và Nhà  nư­ớc giao, hàng năm số thanh niên đi làm

nghiã vụ quân sự đều đạt chỉ tiêu.

31-m-ng-khi-ng-la-gi.txt · Last modified: 2018/11/07 17:11 (external edit)