User Tools

Site Tools


31-kim-l-ng-la-gi

Kim Lương là một xã thuộc huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương, Việt Nam.

Địa giới hành chính xã:

Xã có diện tích 5.25 km², dân số năm 1999 là 6.769 người,[1] mật độ dân số đạt 1289 người/km². Quốc lộ 5A và tuyến đường sắt Hà Nội - Hải Phòng nghiễm nhiên chia tách xã thành 4 xóm, bên này đường 5 thuộc xóm 1 và 3 còn bên kia đường tàu thuộc xóm 2 và 4.

Nguyên xưa đây là vùng đất nằm trong hệ thống "Hải Dương quan phòng" thuộc đạo Hồng Châu thời Đinh - Tiền Lê (thời Lý - Trần đổi là lộ Hồng Châu) được đặt các trạm gác quan trọng với nhiệm vụ bảo vệ khu vực duyên hải. Trước thời Lê trung hưng, vùng đất này còn hoang vắng, nhiều rừng rậm, lắm thú dữ, hơn nữa lại nhiều xú vẹt và đầm lầy, nên không có dân định cư lâu dài mà chỉ là "du canh du cư". Đến thời Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Hậu Lê, một số trung thần nhà Lê không theo nhà Mạc đã đến vùng này định cư, thay tên đổi họ, trở thành những cư dân bản xứ đầu tiên. Khi nhà Mạc thất thủ Thăng Long, một số tôn thất nhà Mạc cùng các quan lại bất mãn chính quyền Lê Trịnh cũng chạy về đây khai hoang lập ấp. Trong các thời kỳ sau đó, một số gia tộc nhỏ tiếp tục đến đây lánh nạn tạo ra sự đa dạng thêm cho hệ thống tông tộc ở nơi này.

Năm Minh Mạng thứ 12 (1831), triều đình cho lập tỉnh Hải Dương bao gồm 5 phủ 19 huyện. Vùng đất Kim Lương ngày nay, bấy giờ thuộc tổng Bất Nạo huyện Kim Thành.

Huyện Kim Thành thời Pháp thuộc được chia làm 7 tổng: Cam Đông, Lai Vu, Phù Tải, Phí Gia, Lại Xuyên, Bất Nạo và Hà Nhuận. Sau này Hà Nhuận được cắt sang huyện An Dương của tỉnh Kiến An, Kim Thành chỉ còn 6 tổng, trong đó tổng Bất Nạo bao gồm 8 xã: Bất Nạo, Dưỡng Thái (còn gọi làng Oi), An Thái, Lương Xá, Cổ Phục (còn gọi làng Si), Cống Khê, Văn Dương và Bân Lộc. Các xã Bân Lộc, Cổ Phục và Lương Xá tương ứng với địa bàn xã Kim Lương ngày nay.

Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cho gộp xã Bân Lộc, Cổ Phục và Lương Xá lại để thành lập xã Minh Tân, lấy ý câu trong sách Đại Học là "minh đức tân dân". Được 3 năm, xã được đổi lại thành xã Nhật Tân. Trong thời gian Kháng chiến chống Pháp, xã Nhật Tân được sát nhập với xã Vạn Thọ (bao gồm 2 thôn Cống Khê và Vân Dương của xã Kim Khê ngày nay) thành xã Vạn Tân.

Sau khi kiểm soát được hoàn toàn miền Bắc, chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thành lập xã Kim Lương trên cơ sở của 2 thôn Cổ Phục (bao gồm cả xã Bân Lộc cũ, lúc đó đã trở thành xóm Trại Mới) và Lương Xá, ổn định cho đến ngày nay.

Gần đây do dân cư đông đúc nên xã Kim Lương được nhà nước nghiên cứu chia thành 4 đơn vị hành chính cấp thôn, Cổ Phục và Lương Xá đều lấy đường 5 và đường xe lửa để chia đôi thành 4 thôn là: Cổ Phục Bắc, Cổ Phục Nam, Lương Xá Bắc và Lương Xá Nam.

Tại thôn Cổ Phục, cư dân chiếm đại đa số đều thuộc họ Nguyễn Văn, họ Hoàng gốc Mạc và họ Phạm. Ngoài ra có những họ nhỏ như họ Đỗ xóm trong, họ Đỗ xóm Trại Mới, họ Hoàng gốc Nguyễn, họ Hoàng gốc Ngô, họ Nguyễn Xuân, họ Nguyễn xóm Trại Mới, họ Nguyễn xóm trong, họ Phạm "nhập", họ Bùi, họ Vũ và một số họ thiểu số ngụ cư khác.

  • Họ Nguyễn Văn: theo gia phả dòng họ, Thủy tổ vốn tên là Doãn Ích, người Nam Định, từng làm quan dưới triều Hậu Lê, do không theo nhà Mạc nên bỏ trốn đến vùng Cổ Phục ngày nay mai danh ẩn tính, đổi tên thành Nguyễn Thế Ích. Hậu duệ đời thứ 7 của Nguyễn Thế Ích là Phúc Thọ vốn làm tướng dưới thời vua Gia Long nhà Nguyễn lập nhiều chiến công hiển hách, sinh được cả thảy 12 người con trai. Trừ 3 người dời đi nơi khác làm ăn, còn 9 người ở lại trở thành tổ tiên của 9 chi họ Nguyễn Văn ngày nay.[2]
  • Họ Hoàng: theo gia phả dòng họ, Thủy tổ tên là Hoàng Văn Bảo, cháu 4 đời của Vũ An Đế Mạc Toàn, nguyên người thôn An Lưu (nay thuộc xã Hiệp An huyện Kinh Môn tỉnh Hải Dương), sang lập nghiệp ở Cổ Phục rồi đổi thành họ Hoàng. Ông sinh được 3 người con trai nhưng có hai người đi tha phương rồi biệt tích, người con thứ 2 là Thực ở lại Cổ Phục sinh hạ 4 trai trở thành tổ tiên của 4 ngành họ Hoàng thôn Cổ Phục ngày nay.
  • Họ Phạm: theo gia phả dòng họ, Thủy tổ tên là Phạm Văn Chất, không rõ nguyên quán, đến Cổ Phục khoảng đầu thế kỷ XVIII. Ông có hai người con trai, từ đó họ Phạm được phân thành 2 chi lớn cùng tồn tại cho đến tận ngày nay.
  • Quốc lộ 5A có đoạn dài 3 km chạy qua địa bàn xã
  • Tuyến đường sắt Hà Nội - Hải Phòng nằm song song với quốc lộ 5A

Với vị trí thuận lợi cả giao thông đường thủy, đường bộ Kim Lương có thế mạnh về phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và sản xuất nông nghiệp, nhiều dự án công nghiệp đầu tư trên địa bàn và hoạt động có hiệu quả. Với chính sách ưu tiên và nguồn lực dồi dào mảnh đất nơi đây là điểm hẹn lý tưởng của nhiều cơ sở sản xuất kinh doanh thành đạt, dưới đây là danh sách các công ty nằm trên địa bàn xã:

  1. CÔNG TY TNHH THƯƠNG MẠI VÀ DỊCH VỤ VẬN TẢI TIẾN NGỌC
  2. CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN ĐỨC TÍN KT
  3. CÔNG TY TNHH VẬN TẢI TUẤN ANH PHÁT
  4. CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN THƯƠNG MẠI VÀ SẢN XUẤT BÁ THÀNH
  5. CÔNG TY TNHH CỌC ỐNG KIẾN HOA - ĐẤT VIỆT
  6. CÔNG TY TNHH THƯƠNG MẠI VÀ VẬN TẢI PHÚC VINH
  7. CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN CÔNG NGHỆ NHỰA ĐÔNG HÚC
  8. CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN VẬN TẢI VÀ THƯƠNG MẠI TIẾN LINH
  9. CÔNG TY TNHH PHƯƠNG HỶ
  10. CÔNG TY TNHH CỌC ỐNG KIẾN HOA - ĐẤT VIỆT
  11. CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN THƯƠNG MẠI PHÚC AN
  12. CÔNG TY CỔ PHẦN BÊ TÔNG ĐẤT VIỆT
  13. CÔNG TY TNHH THƯƠNG MẠI HOÀNG GIANG
  14. CÔNG TY CỔ PHẦN ĐÓNG TÀU HOÀNG GIA
  15. CÔNG TY CỔ PHẦN B.C.H
  16. CÔNG TY GIẦY BÌNH DƯƠNG (TNHH)

Đảng bộ, Chính quyền và nhân dân Kim Lương luôn là đơn vị hoàn thành và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Tổng thu nhập hàng năm năm sau cao hơn năm trước, Văn hóa – Xã hội phát triển, An ninh - Quốc phòng đảm bảo. Năm 2013, kinh tế phát triển theo hướng tích cực, cơ cấu kinh tế: Nông nghiệp: 16,25%, Công nghiệp: và tiểu thủ công nghiệp: 57,48%, Dịch vụ, vận tải: 26,27 %; Thu nhập bình quân đầu người của xã đạt 21.828.000đ/năm.

  • mỗi thôn có 1 trường Mầm non
  • Trường tiểu học Kim Lương
  • Trường trung học cơ sở Kim Lương (Ngày 26/4/2015, đã long trọng tổ chức đón nhận bằng công nhận trường đạt chuẩn quốc gia)[3]
  • Đình Bân Lộc (tên chữ là Hiển Linh đình): tọa lạc ở địa phận xã Bân Lộc cũ, thờ đức Thánh Gióng Phù Đổng Thiên Vương. Thời kỳ chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất từng bị người Pháp đánh phá, năm 2004 nhân dân địa phương kiến nghị lên ủy ban nhân dân huyện Kim Thành xin phép được khôi phục lại ngôi đình trên di tích còn sót lại ngày xưa và đã được chính quyền chấp nhận. Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương mồng 10/3 âm lịch hàng năm được lựa chọn để mở hội, lễ hội được diễn ra trong vòng 3 hôm với những trò chơi dân gian đặc sắc.
  • Chùa Si (trước gọi là Hồi Linh tự, sau đổi thành Ứng Linh tự): vốn là một trong 72 ngôi chùa cổ thuộc thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, thời kỳ kháng chiến chống Pháp cũng bị tàn phá nặng nề. Năm 2006, thượng tướng Nguyễn Thế Trị đặt vấn đề với xã xin cấp 3000 mét vuông đất để đứng ra tổ chức khôi phục lại di tích, đến ngày 15/4/1007 công trình được khánh thành và được đông đảo nhân dân bản địa cùng các du khách thập phương chào đón một cách rất nồng nhiệt.[4]
  • Đình Lương XáTháp gạch Cửu phẩm Liên hoa năm trong khuôn viên Chùa Linh Quang là di tích Lịch sử - Văn hóa đã được xếp hạng cấp Quốc gia.

Sau cải cách ruộng đất, do địa bàn xã chỉ có 2 thôn nên cứ nhiệm kỳ này người Lương Xá làm chủ tịch uỷ ban nhân dân thì người Cổ Phục sẽ được bầu làm bí thư chi bộ và ngược lại, hình thức này cứ luân phiên tồn tại như vậy cho đến tận ngày nay, tuy hiện tại xã đã được phân thành 4 thôn (tương đương với 4 xóm theo phân chia hành chính thời trước) nhưng cách bầu cử vẫn không có gì thay đổi.

Chủ tịch uỷ ban nhân dân[sửa | sửa mã nguồn]

Chủ tịch lâm thời

Họ và tên Thời gian cầm quyền Ghi chú
Hoàng văn Chí 9/1945 - 3/1946 chủ tịch lâm thời xã Cổ Phục
Đỗ văn Phúc 9/1945 - 3/1946 chủ tịch lâm thời xã Bân Lộc
Hứa văn Diệm 9/1945 - 3/1946 chủ tịch lâm thời xã Lương Xá

Thời kỳ Minh Tân, Nhật Tân và Vạn Tân

STT Họ và tên Thời gian cầm quyền Ghi chú
1 Hoàng văn Cầu 4/1946 - 7/1949 người Cổ Phục, thời kỳ Minh Tân
2 Hoàng văn Quỳ 8/1949 - 4/1950 người Cổ Phục, thời kỳ Nhật Tân
3 Nguyễn Phúc Á 5/1950 - 1/1951 người Cống Khê, thời kỳ Vạn Tân
4 Hoàng văn Trù 12/1951 - 12/1952 người Vân Dương
5 Nguyễn thị Đắc 1/1953 - 11/1955 người Cổ Phục

Từ sau "cải cách ruộng đất" đến nay

STT Họ và tên Thời gian cầm quyền Ghi chú
1 Trần văn Dụ 6/1956 - 7/1957 người Lương Xá
2 Hoàng văn Kinh 8/1957 - 11/1959 người Cổ Phục
3 Hoàng văn Quỳ 12/1959 - 12/1960 người Cổ Phục
4 Nguyễn văn Hỗ 1/1961 - 1/1962 người Cổ Phục
5 Hứa văn Lực 2/1962 - 12/1962 người Lương Xá
6 Lê văn Cất 1963 - 1965 người Lương Xá
7 Đỗ Thế Phai 1966 - 1971 người Lương Xá
8 Nguyễn văn Khảm 1972 - 1976 người Cổ Phục
9 Đỗ văn Hải 1977 - 1980 người Cổ Phục
10 Nguyễn văn Đam 1981 - 1982 người Cổ Phục
11 Hứa Minh Hiên 1983 - 1986 người Lương Xá
12 Hứa văn Thân 1987 - 1991 người Lương Xá
13 Nguyễn Ánh Hồng 1992 - 1993 người Cổ Phục
14 Nguyễn văn Doanh 1994 - 1996 người Cổ Phục
15 Đỗ Xuân Hiến 1997 - 1998 người Lương Xá
16 Đỗ Duy Chiến 1999 - 2005 người Lương Xá
17 Nguyễn Duy Phương 2006 - 2009 người Cổ Phục
18 Vũ Ngọc Uông 2010 - đến nay người Lương Xá

Bí thư đảng ủy[sửa | sửa mã nguồn]

Thời kỳ kháng chiến chống Pháp

STT Họ và tên Thời gian cầm quyền Ghi chú
1 Hoàng văn Rộng 8/1945 - 1/1947 người Cổ Phục, bấy giờ là xã Minh Tân
2 Đỗ văn Phúc 2/1947 - 5/1947 người Cổ Phục
3 Hứa văn Cọ 6/1947 - 5/1948 người Lương Xá
4 Đỗ văn Hồng 6/1948 - 10/1948 người Cổ Phục
5 Nguyễn văn Nhã 11/1948 - 7/1949 người Cổ Phục
6 Nguyễn văn Mẫn 8/1949 - 3/1950 người Lương Xá, đổi thành xã Nhật Tân
7 Đỗ văn Hồng 4/1950 - 8/1950 người Cổ Phục, đắc cử lần 2
8 Nguyễn văn Tân 9/1950 - 12/1950 người Lương Xá
9 Nguyễn văn Hồng 1/1951 - 9/1951 người Cống Khê, sát nhập thành xã Vạn Tân
10 Đỗ văn Hồng 10/1951 - 12/1951 người Cổ Phục, đắc cử lần 3
11 Đỗ văn Tảng 1/1952 - 8/1952 người Lương Xá
12 Hoàng văn Cầu 9/1952 - 4/1953 người Cổ Phục
13 Hoàng thị Tằng 5/1953 - 11/1955 người Văn Dương

Từ sau "cải cách ruộng đất" đến nay

STT Họ và tên Thời gian cầm quyền Ghi chú
1 Đỗ thị Tiến 6/1956 - 7/1957 người Lương Xá
2 Nguyễn văn Thuế 8/1957 - 7/1958 người Cổ Phục
3 Lã văn Tâm 8/1958 - 3/1960 người Lương Xá
4 Nguyễn văn Hỗ 4/1960 - 3/1961 người Cổ Phục
5 Lã văn Tâm 4/1961 - 1/1962 người Lương Xá, đắc cử lần 2
6 Nguyễn văn Hỗ 2/1962 - 2/1966 người Cổ Phục, tái đắc cử
7 Lã văn Tâm 3/1966 - 9/1967 người Lương Xá, đắc cử lần 3
8 Nguyễn văn Hựu 10/1967 - 1/1973 người Cổ Phục
9 Đỗ Thế Phai 2/1973 - 10/1981 người Lương Xá
10 Hoàng Xuân Thành 11/1981 - 12/1982 người Cổ Phục
11 Nguyễn văn Đam 1/1983 - 11/1992 người Cổ Phục
12 Hứa văn Thân 12/1992 - 11/1994 người Lương Xá
13 Nguyễn Đức Học 12/1994 - 7/1997 người Lương Xá
14 Nguyễn Ánh Hồng 8/1997 - 9/2000 người Cổ Phục
15 Đỗ Tiến Dũng 10/2000 - 12/2005 người Cổ Phục
16 Nguyễn văn Chanh 1/2006 - 6/2008 người Lương Xá
17 Nguyễn Duy Phương[7] 7/2008 - đến nay người Cổ Phục
  • Thượng tướng, PGS.TS Nguyễn Thế Trị - Dấu ấn đời binh nghiệp (hồi ký) - nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2011
  • Lịch sử đảng ủy xã Kim Lương
31-kim-l-ng-la-gi.txt · Last modified: 2018/11/07 17:11 (external edit)